SỚ ĐIỆP TRẠNG BIỂU QUAN BẢNG

https://www.phapsu.vn

SỚ ĐIỆP TRẠNG BIỂU QUAN BẢNG

SỚ ĐIỆP TRẠNG BIỂU QUAN BẢNG

1. Sớ (疏) Tức Sớ văn, Tấu sớ. Sớ văn, có nghĩa là tín đồ bày tỏ, trình bày ý mình với chư thần. Văn Thể Minh Biện (文體明辯) viết: "Xét Tấu sớ, là tên gọi chung cho các bài biểu mà bầy tôi dâng lên để can gián (vua). Văn chương dâng lên Thiên tử, tên gọi không chỉ một, nên dùng Tấu sớ để bao quát." Trong khoa nghi Đạo Giáo, được dùng ở rất nhiều nơi, thông thường gọi là "sớ văn", hoặc gọi là "văn sớ", có khi chỉ gọi là "văn". 2. Biểu (表) ① Lời kẻ dưới nói với người trên, gọi là Biểu. Nghĩ trong lòng, thể hiện ra ngoài. Biểu có nghĩa là bày tỏ, dùng lời để bày tỏ tình ý ra bên ngoài. ② Nguyên là một loại trong Chương tấu, làm sáng tỏ sự việc đạo lý, khiến cho trở nên minh bạch, để giúp chủ thượng hiểu được, hòng hết lòng trung thành. Chủ yếu dùng để trình bày tình ý, nội dung công khai, nên không ngại để người khác biết. 3. Trạng (狀) ① Muốn trình bày, thưa gửi với chư thần, đại khái đều dùng Trạng. Chỉ đốt đi, không cần đọc to lên. ② Là văn bản của cơ quan cấp dưới trình bày sự thật lên cơ quan cấp trên, gọi là Trạng trình. 4. Điệp (牒) ① Điệp văn dùng trong việc kiến lập, tu sửa trai đàn, chỉ loại văn bản dâng trình lên Thiên đình và các loại văn thư công văn trao đổi giữa thần và thần. ② Nguyên là tên gọi văn thư quan phương thời xưa, chỉ công văn của thượng cấp gửi xuống. Chính Tự Thông (鄭字通) viết: Thuyết Văn Giải Tự nói, đó là thẻ ghi, Quảng Vận nói, thẻ gỗ để viết chữ gọi là Điệp. Người xưa dùng thẻ gỗ, thẻ tre, các lời hứa... đều gọi là Điệp. Từ đời Tống, năm Nguyên Phong về sau, mới đổi việc kiện tụng gọi là Trạng, lời thề trước thần gọi là: thệ trạng, chỉ có công văn của quan phủ mới gọi là "Điệp". 5. Quan (關) ① Khi kiến lập, tu sửa trai đàn, để gửi đi các văn kiện như Điệp, Biểu, Sớ..., ủy thác các sứ giả Công Tào chuyển đến chư thần, nếu số lượng nhiều, ắt phải làm thành mục lục, điểm danh rõ ràng với sứ giả ấy, và dặn dò họ chuyển đệ cho thỏa đáng, chớ nên chậm trễ thất lạc..., mà viết chỉ thị này thành văn kiện, thì gọi là Quan. ② Nguyên là một loại công văn của quan phủ, các quan lại dùng để chất vấn lẫn nhau. Văn Thể Danh Biện (文體名辯) viết: "Các cơ quan tự mình chất vấn nhau, có ba loại: một gọi là Quan: ý là thông báo, trao đổi về sự việc đó." Cho nên cũng gọi là "Quan văn". 6. Bảng (榜) Trong nghi thức trai đàn lễ nghi Đạo Giáo, là loại văn bản được niêm yết, dán công khai trước đàn tràng. Ý nghĩa của nó là để cáo dụ tín chúng biết về thứ tự các bước pháp sự, ước thúc thần tướng, cô hồn, liệt kê toàn bộ kinh điển, chương trình khoa nghi sẽ được tụng niệm, diễn pháp trong trai tiếu điển lễ, thông báo cho thần tướng, tiên lại đến đàn tràng nhận nhiệm vụ, hiểu dụ các lộ cô hồn đến đàn tràng để thụ độ. 7. Bàn về quy tắc "Bình Khuyết" - 平闕 trong văn bản Các từ như thánh hiệu Phật Thánh Đế v.v hoặc các từ có ý nghĩa đến ông giời( hoặc tương tự) như Ân hựu (恩宥), Nguyên xá (原赦), Thiên uy (天威), Giám sát (鑒察), Giáng lâm (降臨), Kinh giáo (經教), Phiêu ngự (飆馭), Thánh đức (聖德)... đều phải "bình khuyết" (lên một dòng mới hoặc bỏ trống ô chữ rồi viết tiếp). Nếu trong văn từ tấu nhẹ thì chỉ cần "khống" (控 - lùi vào) một chữ. Nếu là văn từ chuyên tấu lên các vị to lớn , thì nên "bình khuyết" đài lên dòng mới . Còn đối với các Thần như Thổ Địa, càng không cần "khống". Phàm việc "khống" một chữ, đều là "bình khuyết". Lại nữa, trong văn từ không được "trừu phá" (抽破 - cắt rời) họ tên, phải dời chữ cho khéo, để chúng chỉ nằm trong một hàng là tốt nhất. Thầy Bùi Quang Tuấn